Truy cập nội dung luôn

Videos trang chủ Videos trang chủ

Tất cả videos

Hình hoạt động Hình hoạt động

  Hình Ảnh
Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1

Liên kết Liên kết

THỐNG KÊ THỐNG KÊ

  Đang truy cập : 3
  Hôm nay: 369
  Tổng lượt truy cập: 421799

Cải cách hành chính

THỦY SẢN TIỀN GIANG 2017- TIỀM NĂNG VÀ PHÁT TRIỂN
06/03/2018

Nhìn lại chặng đường đã qua, ngành thủy sản Tiền Giang cũng như khu vực ĐBSCL hoặc trên cả nước, có những bước thăng trầm trong việc định hình, mở rộng sản xuất, phát triển thị trường. Năm 2017, trong bối cảnh thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Tiền Giang, lĩnh vực thủy sản đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Theo đề án này, các mục tiêu cụ thể trong lĩnh vực thủy sản là: Xây dựng ngành thủy sản theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ trong sản xuất nhằm nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, trên cơ sở thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu đã từng bước được phát huy. Các tiến bộ KHKT và kinh phí đầu tư chuyển giao được khuyến nông đáp ứng kịp thời và mang lại hiệu quả kinh tế cao qua thực hiện thành công nhiều dự án, đã hỗ trợ ngành nông nghiệp có cơ sở quy hoạch vùng nuôi, vụ nuôi, đối tượng nuôi hợp lý và những tiến bộ kỹ thuật mới được nông dân áp dụng đạt hiệu quả cao.

Năm 2017, diện tích nuôi thủy sản của Tiền Giang là 15.819 ha, tăng 1.000 ha so với năm 2015. Phương tiện khai thác thủy sản là 1353 tàu với 479.049 (công suất máy chính trung bình là 354 CV/tàu) và 1000 tàu có công suất trên 90 CV khai thác xa bờ. Tổng sản lượng khai thác và nuôi thủy sản năm 2017 đạt 250.000 tấn.

Về nuôi tôm: Diện tích thả nuôi 4.973 ha (hầu hết là tôm thẻ), sản lượng đạt 23.087 tấn.

Năm 2017 tình hình thời tiết và thị trường tương đối thuận lợi, nhờ trúng mùa và giá ổn định, người nuôi có lãi. Các hộ nuôi tôm áp dụng tiến bộ KHKT mới như: nuôi theo VietGAP, nuôi tôm 2 giai đoạn là phương thức nuôi hiệu quả (hiện có 14 hộ với 30 ha đang áp dụng). Qui trình được cho là hiệu quả nhất hiện nay là sử dụng xi phông đáy, thay nước tuần hoàn hoặc bán tuần hoàn kết hợp tạo oxy đáy, trên ao có trãi bạt, thậm chí có cả phủ lưới lan phía trên, đạt năng suất bình quân từ 40-70 tấn/ha.

Về nuôi nghêu: Hiện nghêu vùng biển Gò Công phát triển bình thường trở lại với diện tích thả nuôi 2150 ha, đồng thời thị trường tiêu thụ có nhiều khởi sắc nên người nuôi rất phấn khởi. Ngành đang trên cơ sở đánh giá sơ bộ theo tiêu chuẩn MSC của nhóm chuyên gia đánh gía để khắc phục những điểm chưa phù hợp để đề nghị chứng nhận theo tiêu chuẩn MSC cho nghề nuôi nghêu huyện Gò Công Đông.

Về nuôi cá tra: Năm 2017, được xem là năm trở lại của nghề nuôi cá tra. Giá cá tra thương phẩm tăng từ đầu năm, hiện đang ở mức khá 27.000- 29000đồng/kg (ở giá này người nuôi có lãi 4.000 -6000 đồng/kg). Dù vậy, diện tích nuôi cá tra vẫn ổn định, không xảy ra hiện tượng thả nuôi ồ ạt do người nuôi đã có kinh nghiệm về sự bấp bênh của thị trường tiêu thụ. Hiện diện tích nuôi cá tra là 122 ha, trong đó có 68 ha  áp dụng theo tiêu chuẩn nuôi an toàn gồm VietGAP, GlobalGAP, ASC.

Vùng nuôi cá bè: Toàn tỉnh có 1.268 bè/169.357 m3, chủ yếu nuôi cá điêu hồng, sản lượng thu hoạch 13.690 tấn, chưa áp dụng các qui trình thực hành nuôi tốt và chủ yếu tiêu thụ nội địa nên giá cả còn bấp bênh. Năm 2017 tình hình dịch bệnh giảm, mặn không bị lấn sâu, giá cả đang ổn ở mức 34.000 – 36.000 đồng/kg (người nuôi có lãi khoảng 4.000 đ/kg).

Về sản xuất giống: Hiện người sản xuất giống áp dụng tốt các kỹ thuật chuyên môn và hình thành các vùng chuyên sản xuất giống ở Cái Bè, Cai Lậy. Đây là Trung tâm cung cấp giống nước ngọt cho các tỉnh ĐBSCL và Đông Nam Bộ. Toàn vùng hiện có 640 ha, trong đó 540 ha ương và 100 ha sản xuất cá bột các loại, hàng năm cung cấp khoảng 411 triệu  cá giống và 4.750 triệu cá bột (khoảng 56% là bột cá tra).

Khai thác thủy sản: Tập trung chuyển sang khai thác xa bờ, công suất máy và tàu thuyền khai thác xa bờ hàng năm đều tăng. Đa số các tàu cá tổ chức sản xuất theo nhóm, tổ đội như: Nhóm nghề lưới kéo, lưới vây kết hợp ánh sáng, nghề lưới rê tầng đáy…, có tàu vận chuyển thủy sản vào bờ. Nhờ đó làm giảm chi phí chuyển biển, tăng thời gian bám biển của các đội tàu khai thác, gia tăng sự an toàn và hiệu quả đánh bắt đồng thời hỗ trợ cho nhau khi có thiên tai hay sự cố xảy ra.

Đến nay đã thành lập được 42 tổ hợp tác với 369 tàu và 3.256 thuyền viên và 1 hợp tác xã. Ngư dân đã ứng dụng thành công các tiến bộ kỹ thuật khai thác thủy sản xa bờ như: Máy dò ngang Sonar (giúp sản lượng khai thác tăng 50%), bóng đèn tiết kiệm điện công suất 200w thay thế bóng cao áp công suất 1000w trên các tàu lưới vây và tàu chong đèn dẫn dụ cá, hầm bảo quản bằng công nghệ PU Foams giúp kéo dài thời gian bảo quản.

Riêng đối với nghề lưới rê cá dưa và lưới rê hỗn hợp đã giúp ngư dân 2 xã Tân Phước và Tân Tây (Gò Công Đông) chuyển đổi nghề đúng hướng mang lại hiệu quả cao, ngoài ra còn lắp đặt máy rada hàng hải, máy thông tin liên lạc tầm xa đã giúp các tàu quan sát được các chướng ngại vật đồng thời chủ động liên lạc với nhau và với đất liền.

Các chính sách Nhà nước hỗ trợ ngư dân cũng được quan tâm như: Thực hiện Quyết định 48/2010/QĐ-TTg, đến nay UBND tỉnh Tiền Giang đã phên duyệt danh sách 185 tàu cá của tỉnh đủ điều kiện tham gia khai thác, dịch vụ hậu cần trên các vùng biển xa (riêng năm 2017 hỗ trợ 3 đợt với tổng số tiền 21,36 tỉ đồng). Thực hiện nghị định 67/2014/NĐ-CP đã hỗ trợ đóng mới 30 tàu, nâng cấp 8 tàu… đã hoàn thành và đi vào hoạt động. Thực hiện quyết định 375/QĐ-TTg  đến nay đã trang bị máy thông tin liên lạc tầm xa sóng HF có tích hợp thiết bị định vị vệ tinh cho 32 máy/32 tổ khai thác thủy sản.

Để phát huy những kết quả đạt được trong thời gian tới, ngành thủy sản tỉnh nhà  tích cực thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Lĩnh vực nuôi: Tập trung nhân rộng mô hình nuôi tôm thâm canh năng suất cao cao phù hợp với nguồn nước, cơ sở hạ tầng vùng biển Gò Công. Cần tuyên truyền để người dân nắm vững kỹ thuật, từ đó vận dụng lựa chọn quy trình công nghệ phù hợp. Thay đổi cách nuôi truyền thống bằng mô hình nuôi công nghệ cao như nuôi tôm theo VietGAP, nuôi tôm 2 giai đoạn. Nên thiết kế lại ao nuôi thâm canh (có ao ương hoặc bể ương) diện tích 200 - 1000m2, mật độ ương 500 - 900c/m2, thời gian ương 25-30 ngày) hạn chế bệnh ngoại tử gan tụy (EMS) trong ngưỡng tôm 20-45 ngày mà nông dân thường gặp trước đây.

Tạo điều kiện thuận lợi để các hộ nuôi (cá tra, cá nuôi bè, cá tai tượng) liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích từ người sản xuất giống, người nuôi, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Gấp rút chứng nhận tiêu chuẩn ESC cho vùng nuôi nghêu nhằm nâng cao giá trị tăng thêm cho đối tượng này. Tiếp tục đa dạng hóa cácc đối tượng nuôi chú ý các loài nuôi thủy đặc sản (lươn, ếch,.. ) nuôi luân canh, xen canh phù hợp điều kiện canh tác từng vùng.

Lĩnh vực khai thác: Tiếp tục thực hiện kịp thời, đầy đủ đúng qui định các chính sách khuyến kích khai thác xa bờ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại để nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm. Đầu tư kịp thời cơ sở hạ tầng tại các cảng cá, vận động thành lập tổ đội khai thác và dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển nhằm phát huy hoạt động khai thác cũng như nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm khai thác.

Ngành thủy sản Tiền Giang đã có những bước tiến vượt bực với những kết quả đáng tự hào. Hy vọng chặng đường phía trước với những cơ hội và thách thức, nhưng với quyết tâm của các ngành các cấp đặc biệt là sự năng động và sáng tạo của nông dân trong sản xuất sẽ đưa ngành thủy sản phát triển bền vững xứng đáng là ngành mũi nhọn của tỉnh nhà.

Mai Thành Lộc – Phó GĐ TTKN

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)
DỰ BÁO THỜI TIẾT

Hà Nội

 Thời tiết một số vùng ở nước ta

Tp Hồ Chí Minh

Thời tiết Tp Hồ Chí Minh

Huế

Thời tiết Huế

Tiền Giang

Thời tiết Tp Hồ Chí Minh

Nha Trang

Thời tiết Nha Trang

Cà Mau

Thời tiết Cà Mau

 
THÔNG TIN MỰC NƯỚC
Tình hình mực nước khu vực tỉnh Tiền Giang 
 
 
Điểm đo Mực nước cao nhất So với ngày trước
 
THÔNG TIN ĐỘ MẶN
Tình hình hạn mặn khu vực tỉnh Tiền Giang 
(Đến 7 giờ ngày 17/02/2020 )
 
Trạm đo Độ mặn cao nhất So với ngày trước
Vàm Kênh 18,9 g/l Tăng 0,1 g/l
Long Hải 12,7 g/l Giảm 0,6 g/l
Vàm Giồng 4,5 g/l Giảm 0,5 g/l
Hòa Định 4,6 g/l Giảm 0,4 g/l
Xuân Hòa 3,41 g/l Tăng 0,05 g/l
Vàm Tân Mỹ Chánh 3,73 g/l Giảm 0,31 g/l
Gia Thuận 18,6 g/l Giảm 0,2 g/l
Cống số 3 ST 14,7 g/l Giảm 0,3 g/l
Cống số 1 ST 16,3 g/l Giảm 0,3 g/l
Cầu Xoài Hột 3,54 g/l Tương đương
Đồng Tâm 1,63 g/l Giảm 0,01 g/l
Cầu Phú Phong 2,91 g/l Giảm 0,89 g/l
Cầu Kim Sơn 3,46 g/l Giảm 0,46 g/l
Vàm Ba Rài 0,27 g/l Giảm 0,27 g/l
Vàm Cái Bè 0 g/l Giảm 0,27 g/l
Vàm Trà Lọt 0 g/l Tương đương
Phà Ngũ Hiệp 0,26 g/l Giảm 1,04 g/l