Truy cập nội dung luôn

Videos trang chủ Videos trang chủ

Tất cả videos

Hình hoạt động Hình hoạt động

  Hình Ảnh
Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1

Liên kết Liên kết

THỐNG KÊ THỐNG KÊ

  Đang truy cập : 3
  Hôm nay: 366
  Tổng lượt truy cập: 421796

Cải cách hành chính

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KỸ THUẬT MỚI TRONG CHĂN NUÔI NĂM 2017 QUA CÁC MÔ HÌNH KHUYẾN NÔNG
06/03/2018

Trong giai đoạn hiện nay, ngành nông nghiệp và PTNT của tỉnh Tiền Giang đã và đang thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ thông qua các chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước như: Chương trình xây dựng nông thôn mới, Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, Đề án đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn,…

  Trong lĩnh vực chăn nuôi, thực hiện chủ trương của Tỉnh trong việc đưa những tiến bộ khoa học mới vào sản xuất nông nghiệp nhằm góp phần nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm và liên kết với tiêu thụ; năm 2017, Trung tâm khuyến nông đã chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới cho nông dân để từng bước cải thiện và nâng cao giá trị của sản phẩm ngành chăn nuôi phù hợp với xu hướng phát triển của cả nước nói chung và Tiền Giang nói riêng.

1. Dự án “Xây dựng mô hình chăn nuôi vịt bố mẹ chuyên trứng TC”

Dự án được phối hợp với Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm VIGOVA, nhằm bổ sung các giống vịt chuyên trứng vào cơ cấu giống hiện có tại Tiền Giang, tạo ra vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh và phát triển các giống vịt có năng suất cao, phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế. Từ kết quả đạt được năm 2016, trong năm 2017  Dự án triển khai tại huyện Châu Thành và TX Cai Lậy, gồm 12 hộ tham gia với tổng đàn 3.600 con vịt giống TC (300 con/hộ).

Vịt cho tỉ lệ đẻ cao 85-94%, giá trứng bán cao hơn thị trường 200 đồng/quả. Qua đánh giá của hộ nuôi, vịt cho lợi nhuận cao hơn từ 1,5 – 2 lần so với vịt địa phương.

Ngoài ra, thông qua dự án đã giúp nông hộ làm quen với việc áp dụng chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, thay đổi dần được tập quán chăn nuôi vịt chạy đồng không kiểm soát, quản lý dịch bệnh và hạn chế ô nhiễm môi trường.

2. Mô hình “Chăn nuôi vịt Biển thương phẩm”

  Đây là mô hình giúp giải quyết bài toán sinh kế cho các hộ vùng nước mặn, nước lợ ở huyện Gò Công Đông trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng tăng. Mô hình có qui mô 1.000 con vịt Biển/2 hộ tại xã Tân Phước, huyện Gò Công Đông. Kết quả cho thấy đàn vịt phát triển tốt, tỉ lệ nuôi sống cao, trọng lượng xuất chuồng bình quân 2,6 kg/con ở 60 ngày tuổi. Mặc dù ở thời điểm bán, giá tương đối thấp nhưng vẫn lãi được 1,3 - 2 triệu đồng/hộ. So với các giống vịt cũ nuôi tại địa phương, vịt Biển có khả năng thích nghi cao, hao hụt ít, phát triển nhanh, nên hiệu quả chăn nuôi cao hơn khoảng 15%. Từ đó cho thấy có thể bổ sung giống vịt Biển vào cơ cấu giống vịt thịt hiện có tại địa phương.

3. Mô hình “Ứng dụng men vi sinh trong thức ăn chăn nuôi heo an toàn sinh học”

Việc sử dụng men vi sinh vào trong thức ăn chăn nuôi là một ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới giúp heo tiêu hóa tốt thức ăn, tăng trọng nhanh, phẩm chất thịt tốt và đặc biệt là hạn chế mùi hôi và chất thải chăn nuôi, hạn chế dịch bệnh, mang lại hiệu quả kinh tế do tiết kiệm được chi phí sản xuất như thức ăn và thuốc thú y.

Năm 2017, mô hình này được triển khai thực hiện trên 8 huyện thị thành, qui mô 320 heo thịt/16 hộ. Kết quả bước đầu cho thấy heo phát triển tốt, hệ số tiêu tốn thức ăn giảm từ 1,85 còn 1,78 đối với giai đoạn heo cai sữa -30kg và giảm từ 2,9 còn 2,79 đối với giai đoạn từ 30kg – 100kg. Lợi nhuận bình quân thu được trên 60 triệu đồng sau hơn 3 tháng nuôi.

4. Mô hình “Chăn nuôi dê ATSH thích ứng với biến đổi khí hậu”

Đây cũng là mô hình chăn nuôi thích ứng biến đổi khí hậu, đồng thời khơi dậy phong trào chăn nuôi dê theo hướng hàng hóa có kiểm soát, ứng dụng đệm lót sinh học để xử lý chất thải.

Mô hình thực hiện tại xã Bàn Long, huyện Châu Thành với qui mô 40 con dê/2 hộ. Kết quả: tỷ lệ nuôi sống đạt 98%, trọng lượng dê xuất chuồng bình quân là 30kg/con, lợi nhuận thu được 20.720.000 đồng. Bên cạnh đó, việc sử dụng đệm lót sinh học đã làm hạn chế mùi hôi từ chuồng nuôi trên 80% so với trước.             

* Một số khó khăn hiện nay trong việc phát triển chăn nuôi trên địa bàn:

+ Sản xuất chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm tỷ lệ cao (trên 95%) là rào cản phát triển ngành chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng tiến bộ khoa học mới.

+ Nhận thức, trình độ và khả năng tiếp thu, chăn nuôi ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới của nhiều nông hộ chưa cao và không đồng đều.

+ Kinh phí cho hoạt động chuyển giao và nhân rộng mô hình của khuyến nông tuy được đầu tư nhưng chưa đủ để phát huy, duy trì mô hình.

* Định hướng hoạt động trong thời gian tới

 - Tiếp tục thực hiện công tác tuyên truyền về các nội dung như đẩy mạnh chăn nuôi theo hướng VietGap, giới thiệu và khuyến khích người dân ứng dụng các kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến,... trên hộp thư Khuyến nông, báo Ấp Bắc, tờ Thông tin Khuyến nông Tiền Giang và Đài PTTH Tiền Giang.

- Tổ chức các buổi tập huấn chuyên đề về các giải pháp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới trong chăn nuôi và phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

- Mở rộng xây dựng mô hình liên kết chuỗi sản xuất chăn nuôi: Tiếp tục hỗ trợ thành lập Tổ hợp tác và Hợp tác xã loại bỏ các khâu trung gian nhằm góp phần hạ giá thành, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để đủ sức cạnh tranh trong môi trường hội nhập kinh tế theo hiệp định TPP mà Việt Nam vừa tham gia.

 

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)
DỰ BÁO THỜI TIẾT

Hà Nội

 Thời tiết một số vùng ở nước ta

Tp Hồ Chí Minh

Thời tiết Tp Hồ Chí Minh

Huế

Thời tiết Huế

Tiền Giang

Thời tiết Tp Hồ Chí Minh

Nha Trang

Thời tiết Nha Trang

Cà Mau

Thời tiết Cà Mau

 
THÔNG TIN MỰC NƯỚC
Tình hình mực nước khu vực tỉnh Tiền Giang 
 
 
Điểm đo Mực nước cao nhất So với ngày trước
 
THÔNG TIN ĐỘ MẶN
Tình hình hạn mặn khu vực tỉnh Tiền Giang 
(Đến 7 giờ ngày 17/02/2020 )
 
Trạm đo Độ mặn cao nhất So với ngày trước
Vàm Kênh 18,9 g/l Tăng 0,1 g/l
Long Hải 12,7 g/l Giảm 0,6 g/l
Vàm Giồng 4,5 g/l Giảm 0,5 g/l
Hòa Định 4,6 g/l Giảm 0,4 g/l
Xuân Hòa 3,41 g/l Tăng 0,05 g/l
Vàm Tân Mỹ Chánh 3,73 g/l Giảm 0,31 g/l
Gia Thuận 18,6 g/l Giảm 0,2 g/l
Cống số 3 ST 14,7 g/l Giảm 0,3 g/l
Cống số 1 ST 16,3 g/l Giảm 0,3 g/l
Cầu Xoài Hột 3,54 g/l Tương đương
Đồng Tâm 1,63 g/l Giảm 0,01 g/l
Cầu Phú Phong 2,91 g/l Giảm 0,89 g/l
Cầu Kim Sơn 3,46 g/l Giảm 0,46 g/l
Vàm Ba Rài 0,27 g/l Giảm 0,27 g/l
Vàm Cái Bè 0 g/l Giảm 0,27 g/l
Vàm Trà Lọt 0 g/l Tương đương
Phà Ngũ Hiệp 0,26 g/l Giảm 1,04 g/l