Truy cập nội dung luôn

Videos trang chủ Videos trang chủ

Tất cả videos

Hình hoạt động Hình hoạt động

  Hình Ảnh
Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1

Liên kết Liên kết

THỐNG KÊ THỐNG KÊ

  Đang truy cập : 4
  Hôm nay: 375
  Tổng lượt truy cập: 421805

Cải cách hành chính

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH NÔNG NGHIỆP NĂM 2017 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NĂM 2018
06/03/2018

Năm 2017, mặc dù sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn như thời tiết diễn biết bất thường, rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá lúa xuất hiện trở lại; một số sản phẩm chăn nuôi có giá bán không ổn định,… nhưng với sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo tỉnh, sự chỉ đạo sâu sát, quyết liệt của Lãnh đạo Sở nông nghiệp cùng sự đoàn kết của toàn ngành và sự đồng thuận của nông dân nên ngành nông nghiệp đạt nhiều kết quả quan trọng. Tốc độ tăng trưởng (GRDP) đạt 20.646 tỷ đồng, tăng 4,7%; Tổng giá trị sản xuất đạt 47.130 tỷ đồng, tăng 4,4% so với năm 2016.

Kết quả sản xuất nông nghiệp

* Trong lĩnh vực trồng trọt: Diện tích xuống giống lúa 210.332 ha, sản lượng 1,239 triệu tấn, Cây màu thực phẩm 54.943ha, sản lượng 1,057 triệu tấn. Cây ăn trái 74.935 ha, sản lượng 1,405 triệu tấn.

 Công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật liên tục được triển khai và đổi mới; các tiến bộ khoa học kỹ thuật được nông dân tiếp tục áp dụng cho hiệu quả cao như: “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm” chiếm 84,6%,; tỷ lệ sử dụng giống lúa cấp nguyên chủng và xác nhận là 77 %,  Cơ giới hóa khâu làm đất, bơm tát chiếm 100% diện tích, tỷ lệ thu hoạch lúa bằng máy chiếm 99,8% diện tích... Lợi nhuận trong sản xuất lúa đạt từ 14-20 triệu đồng/ha, lợi nhuận tăng thêm từ 1,8 - 6 triệu đồng/ha nhờ giảm lượng giống gieo sạ 50-100kg/ha, giảm phân đạm 30-50kg/ha, giảm phun thuốc BVTV 2-3 lần, giảm 1-2 lần bơm nước/vụ. Các mô hình chuyển đổi cơ cấu, cây màu luân canh với lúa giúp gia tăng lợi nhuận từ 3,7 - 5,8 lần so với lúa. Trên cây màu và cây ăn trái, nông dân đã có nhận thức và thực hiện tốt hơn về thời gian cách ly trong sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; tăng cường ứng dụng vi sinh trong sản xuất. Trong năm, không có dịch bệnh gây hại lớn. Sản lượng cây ăn trái tăng 4,88 %. Các mô hình sản xuất rau màu và cây ăn trái được liên kết tiêu thụ, đem lại lợi nhuận cao như sầu riêng, thanh long, bưởi da xanh,

* Chăn nuôi: Tổng đàn heo: 582.089 con, đạt 91,61 % KH, ; Đàn bò: 121.504 con, gia cầm: 11,394 triệu con.

Qua các mô hình chăn nuôi VietGAP, chăn nuôi an toàn sinh học, nhiều hộ chăn nuôi đã liên kết sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm, tạo vùng nguyên liệu cung cấp sản phẩm chăn nuôi đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không kháng sinh. Đây là tiền đề cần thiết để mở rộng thị trường cho các sản phẩm chăn nuôi địa phương. Mô hình ứng dụng men vi sinh trong chăn nuôi heo, giảm tiêu tốn thức ăn từ 0,2-0,3kg thức ăn/1kg tăng trọng, giảm mùi hôi từ chất thải chăn nuôi, sử dụng đệm lót sinh học tiết kiệm đến 80% lượng nước, giảm được chi phí sản xuất từ 2 - 3 triệu đồng/20 con heo thịt và từ 2 – 2,5 triệu đồng/2.000 con gà thịt sau 4 tháng nuôi.

* Thủy sản: Thả nuôi 15.819 ha, đạt 99,08 % KH, tổng sản lượng thủy sản 257.436 tấn. Do điều kiện thời tiết trong năm 2017 thuận lợi hơn năm 2016 (hạn mặn không gay gắt), hoạt động nuôi cá điêu hồng trên bè có thuận lợi hơn, người nuôi có lãi từ 2.000 - 4.000 đ/kg. Đa số các lồng bè là nuôi cá điêu hồng được tiêu thụ nội địa nên giá bán chưa thật sự ổn định. Hiện toàn vùng có 1 cơ sở nuôi bè theo VietGAP với qui mô 20 bè, sản lượng khoảng 200 tấn/ năm. Hoạt động khai thác thủy sản ổn định, công tác đăng ký, đăng kiểm đáp ứng kịp thời nhu cầu của ngư dân; các chính sách hỗ trợ ngư dân thực hiện đạt hiệu quả, sản lượng khai thác tăng 2,5 % so với năm 2016

* Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới:

Nhìn chung, ngành nông nghiệp đã thực hiện tốt công tác tham mưu cho Ban Chỉ đạo tỉnh trong việc chỉ đạo thực hiện Chương trình. Trong năm, có 12 xã đạt 19/19 tiêu chí, trong đó có 4 xã đã tổ chức lễ ra mắt, gồm: Thạnh Nhựt, Long Hòa, Thanh Hòa và Thạnh Hòa. Các xã còn lại, gồm: xã Long Khánh, Long Tiên, Cẩm Sơn, Bình Ân, Tân Lý Tây, Thành Công, Mỹ Hội, Tân Thành dự kiến ra mắt trong năm 2018.

 Trong năm, thành lập mới 43 HTX và 3 tổ hợp tác nông nghiệp, nâng tổng số HTXNN trên địa bàn tỉnh lên 80 HTXNN với 22.106 thành viên và 323 THT nông nghiệp với 60.182 tổ viên. Toàn tỉnh có 453 trang trại nông nghiệp (388 trang trại chăn nuôi, 42 trang trại thủy sản, 23 trang trại trồng trọt), tăng 43 trang trại so với năm 2016; thu nhập bình quân/trang trại là 3 tỷ đồng/năm.

Thực hiện cánh đồng lớn với diện tích thực hiện là 6.410,8 ha với 7.244 hộ tham gia, đạt 171% so với kế hoạch; được tiêu thụ qua hợp đồng 5.065 ha, đạt 79% diện tích ký kết.

* Công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật

- Thực hiện 3.112 cuộc tập huấn, hội thảo, sinh hoạt câu lạc bộ khuyến nông với hơn 97 ngàn lượt nông dân tham dự; thực hiện 70 mô hình trình diễn, trong đó tập trung các giải pháp kỹ thuật sản xuất an toàn, giảm chi phí sản xuất, thân thiện với môi trường qua việc ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, tập trung ứng dụng vi sinh trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, như đệm lót sinh học trong chuồng nuôi, vi sinh trong thức ăn tôm, heo, gà, phân hữu cơ vi sinh, hướng dẫn nông dân chăm sóc và quản lý dịch bệnh, các biện pháp phòng chống hạn mặn trên các loại cây trồng, vật nuôi, .. Hướng dẫn khung lịch thời vụ cho các vụ sản xuất lúa trong năm. Thực hiện 88 lớp dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn với  2.738 lao động. Hầu hết học viên đều áp dụng kiến thức vào phục vụ sản xuất của hộ gia đình.

- Phóng thích 993 ngàn con ong ký sinh và 1,85 ngàn con bọ đuôi kiềm  trên các địa bàn có trồng dừa tập trung.

Triển khai kế hoạch năm 2018

Nhiệm vụ của ngành nông nghiệp trong năm 2018 là: Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại ngành Nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; Ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, chủ động phòng tránh thiên tai, từng bước giảm thiểu ô nhiễm môi trường lĩnh vực nông nghiệp. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, ngành nông nghiệp tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp:

- Phát triển thủy lợi phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng đa chức năng, nhân rộng các mô hình tưới tiết kiệm nước; tăng hiệu quả cấp nước cho sản xuất, chủ động trong phòng, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, từng bước thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu; Triển khai kế hoạch phòng chống hạn mặn mùa khô năm 2018; phối hợp tổ chức vận hành công trình đảm bảo phục vụ sản xuất và dân sinh.

- Đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ưu tiên ứng dụng công nghệ cao gắn với thị trường tiêu thụ;  Xây dựng và triển khai các mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp phát triển du lịch sinh thái.

- Tiếp tục triển khai thực hiện thí điểm, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2017-2020”; tuyên truyền, hướng dẫn hỗ trợ thành lập mới HTX; Thực hiện 60 cánh đồng lớn, diện tích 7.774 ha.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý chất lượng các vật tư nông nghiệp trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; sử dụng chất cấm trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng và chế biến.

- Thực hiện hỗ trợ đào tạo nghề nông nghiệp cho 2.500 lao động nông thôn; tăng cường kiểm tra, giám sát việc dạy nghề nông nghiệp và đánh giá hiệu quả sau đào tạo.

- Tiếp tục phối hợp với các sở, ngành có liên quan hướng dẫn, hỗ trợ các xã đăng ký đạt chuẩn năm 2018. Tiếp tục triển khai một số mô hình sản xuất theo hướng cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, liên kết theo chuỗi giá trị; mô hình mỗi xã một sản phẩm,... nhằm góp phần nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn

- Tiếp tục thực hiện Đề án “Cắt vụ, chuyển đổi mùa vụ và cơ cấu cây trồng các huyện phía Đông”; thực hiện chuyển vụ, luân canh cây màu để nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa. Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị; triển khai các mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa theo GAP; Duy trì xuống giống lúa tập trung, né rầy; tiếp tục áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như: 3 giảm, 3 tăng; 1 phải 5 giảm; công nghệ sinh thái; gia tăng tỷ lệ cơ giới hóa trước, trong và sau thu hoạch.

 - Thực hiện các dự án liên kết chuỗi trên rau, cây xoài, cây sầu riêng, cây thanh long, cây khóm,…phát triển các mô hình du lịch sinh thái gắn với vùng chuyên canh cây ăn trái nhằm phát huy nhanh hơn các tiềm năng, lợi thế về cây ăn trái và rau màu của tỉnh.

- Tổ chức lại ngành chăn nuôi theo hướng bền vững; ứng dụng công nghệ phát triển chăn nuôi an toàn sinh học; giám sát và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả;  Tiếp tục thực hiện các dự án chuỗi giá trị trên gà ác, chim cút, gà thả vườn.

- Tập trung nhân rộng các mô hình nuôi tôm thâm canh năng suất cao phù hợp với lợi thế về nguồn nước và cơ sở hạ tầng ở vùng ven biển các huyện Gò Công Đông, Tân Phú Đông. Mở rộng các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cho các vùng nuôi cá bè trên sông Tiền; Thực hiện kịp thời, đầy đủ, đúng quy định các chính sách khuyến khích khai thác hải sản xa bờ.

Mô hình chăn nuôi vịt biển thích ứng biến đổi khí hậy ở huyện Tân Phước, huyện Gò Công Đông

TS. Trần Thanh Phong - GĐ TT Khuyến nông

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)
DỰ BÁO THỜI TIẾT

Hà Nội

 Thời tiết một số vùng ở nước ta

Tp Hồ Chí Minh

Thời tiết Tp Hồ Chí Minh

Huế

Thời tiết Huế

Tiền Giang

Thời tiết Tp Hồ Chí Minh

Nha Trang

Thời tiết Nha Trang

Cà Mau

Thời tiết Cà Mau

 
THÔNG TIN MỰC NƯỚC
Tình hình mực nước khu vực tỉnh Tiền Giang 
 
 
Điểm đo Mực nước cao nhất So với ngày trước
 
THÔNG TIN ĐỘ MẶN
Tình hình hạn mặn khu vực tỉnh Tiền Giang 
(Đến 7 giờ ngày 17/02/2020 )
 
Trạm đo Độ mặn cao nhất So với ngày trước
Vàm Kênh 18,9 g/l Tăng 0,1 g/l
Long Hải 12,7 g/l Giảm 0,6 g/l
Vàm Giồng 4,5 g/l Giảm 0,5 g/l
Hòa Định 4,6 g/l Giảm 0,4 g/l
Xuân Hòa 3,41 g/l Tăng 0,05 g/l
Vàm Tân Mỹ Chánh 3,73 g/l Giảm 0,31 g/l
Gia Thuận 18,6 g/l Giảm 0,2 g/l
Cống số 3 ST 14,7 g/l Giảm 0,3 g/l
Cống số 1 ST 16,3 g/l Giảm 0,3 g/l
Cầu Xoài Hột 3,54 g/l Tương đương
Đồng Tâm 1,63 g/l Giảm 0,01 g/l
Cầu Phú Phong 2,91 g/l Giảm 0,89 g/l
Cầu Kim Sơn 3,46 g/l Giảm 0,46 g/l
Vàm Ba Rài 0,27 g/l Giảm 0,27 g/l
Vàm Cái Bè 0 g/l Giảm 0,27 g/l
Vàm Trà Lọt 0 g/l Tương đương
Phà Ngũ Hiệp 0,26 g/l Giảm 1,04 g/l