Truy cập nội dung luôn

Videos trang chủ Videos trang chủ

Hình hoạt động Hình hoạt động

  Hình Ảnh
Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1

Liên kết Liên kết

THỐNG KÊ THỐNG KÊ

  Đang truy cập : 3
  Hôm nay: 641
  Tổng lượt truy cập: 642104

Tin mới

HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NGÀNH KINH TẾ HỢP TÁC VÀ PTNT
21/04/2021

Ngày 15-6/4/2021, Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp với UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2020 và Phương hướng nhiệm vụ năm 2021 ngành Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn.

Chủ trì Hội nghị: Ông Trần Thanh Nam - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT; Ông Y Giang Gry Knơng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk; ông Lê Đức Thịnh - Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và PTNT.

KẾT QUẢ TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ NĂM 2020

1. Các kết quả chính

Ngành Kinh tế hợp tác và PTNT bao gồm nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau và có vai trò, vị trí quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng và kinh tế xã hội đất nước nói chung như: Phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã, liên kết theo chuỗi; phát triển trang trại; ngành nghề, làng nghề; đào tạo nghề nông nghiệp; cơ giới hóa sản xuất; nghề muối; giảm nghèo; bố trí dân cư...

Năm 2020, các hoạt động của Ngành diễn ra trong bối cảnh có nhiều sự kiện quan trọng của đất nước và của ngành Nông nghiệp cũng là năm có nhiều khó khăn, thách thức về thiên tai, dịch bệnh, đặc biệt là dịch bệnh Covid-19. Song, được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT, sự cộng tác, phối hợp của các cơ quan, địa phương nên việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ cơ bản đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào thành tích chung của ngành Nông nghiệp, cụ thể là:

Về công tác tham mưu ban hành VBQPPL: Năm 2020, ngành Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn đã tham mưu xây dựng và trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 01 Nghị quyết, 01 Quyết định, 01 Chương trình, 05 đề án và trình Bộ ban hành các văn bản qui phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện các chính sách. Đối với các địa phương đã tham mưu UBND tỉnh, HĐND các cấp ban hành chủ trương, chính sách nhằm cụ thể hóa và tạo điều kiện hành lang pháp lý thúc đẩy phát triển của ngành. Đến nay hệ thống văn bản qui phạm pháp luật của Ngành Kinh tế hợp tác và PTNT đã tương đối đầy đủ và hoàn thiện.

Về phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp: Hết tháng 3/2021 cả nước có xấp xỉ 17.600 HTX NN (98% hoạt động theo Luật HTX năm 2012) và 68 liên hiệp HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Cơ bản hoàn thành mục tiêu 15.000 HTX NN hoạt động hiệu quả do Quốc hội và Chính phủ giao.

HTX NN đã giúp kinh tế hộ phát triển theo hướng thúc đẩy liên kết chuỗi, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm nông nghiệp, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ. Doanh thu bình quân của HTXNN tăng gần gấp đôi so với 2016 đạt 2.441,36 triệu đồng/năm; tăng thu nhập trung bình của hộ thành viên từ 20% đến 30%. HTXNN trở thành mắt xích quan trọng của chuỗi liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản; 24,5% số HTX thực hiện liên kết theo chuỗi với doanh nghiệp, hình thành 1.478 mô hình chuỗi. Cả nước đã có 1.718 HTX ứng dụng CNC vào sản xuất; hình thành nhiều mô hình HTX kiểu mới hoạt động hiệu quả như: Mô hình tích tụ ruộng đất; mô hình sàn giao dịch vật tư, nông sản; mô hình doanh nghiệp trong HTX, hay mô hình HTX trong HTX…

Về phát triển hợp tác, liên kết trong nông nghiệp: Cả nước hiện có 56/63 tỉnh, thành phố đã ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh về chính sách khuyến khích liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP; 48/63 tỉnh ban hành danh mục các ngành hàng, sản phẩm chủ lực quan trọng cần khuyến khích phát triển; 16/63 tỉnh phê duyệt đề án, dự án liên kết của tỉnh với 359 dự án được phê duyệt. Hiện có: 271 tổ chức khoa học, 586.585 hộ nông dân, 4.028 HTXNN tham gia liên kết với 1.867 doanh nghiệp. Trong hơn 4.500 sản phẩm OCOP thì gần 40% là do các THT, HTX NN sở hữu.

Về kinh tế trang trại: Cả nước có 30.026 trang trại sản xuất và kinh doanh nông nghiệp, sử dụng 35.904 ha đất, bình quân diện tích đất 3,1 ha/trang trại; bình quân 3,7 lao động/trang trại. Vốn đầu tư sản xuất của trang trại là 1.042 triệu đồng/trang trại; doanh thu bình quân một trang trại là 1.478 triệu đồng.

Về phát triển ngành nghề nông thôn;đào tạo nghề: Đến hết năm 2020 cả nước có 165 nghề truyền thống và 1.951 làng nghề, làng nghề truyền thống đã được công nhận. Tổng số các cơ sở tham gia sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn là trên 817.000 cơ sở, tạo việc làm cho trên 2,3 triệu lao động, Tổng doanh thu từ các hoạt động ngành nghề nông thôn đạt trên 236.000 tỷ đồng, thu nhập bình quân đạt 4-4,5 triệu đồng/người/tháng. Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt 2,35 tỷ đô la.

Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg, cả nước đã đào tạo được 2,84/3,0 triệu lao động nông thôn học nghề nông nghiệp (đạt 94,67% kế hoạch đề ra); 98,24% số lao động có việc làm sau khi được đào tạo. Cả nước có khoảng 2.510 cơ sở tham gia công tác đào tạo; Công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn đã góp phần tăng năng suất lao động bình quân ngành nông nghiệp đạt 3,5%/năm; nâng tỷ trọng lao động nông nghiệp qua đào tạo từ 10% năm 2010 lên 23% vào năm 2020 (4,31/18,83 triệu lao động).

Về công tác bố trí ổn định dân cư và di dân, tái định cư: Năm 2020, Bộ Nông nghiệp và PTNT tổng kết Chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg và đề xuất nội dung trình cho giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 hiện đã trình Chính phủ, xem xét phê duyệt. Đồng thời tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 01/3/2020 về ổn định dân di cư tự do và quản lý sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường. Tính đến tháng 12/2020, cả nước thực hiện bố trí ổn định cho khoảng hơn 10 nghìn hộ các vùng thiên tai, biên giới, hải đảo. Các tỉnh đã thực hiện di chuyển và bố trí tái định cư được 77.429 hộ (95,1%); số hộ chưa di chuyển là 3.968 hộ thuộc 11 DA thủy điện và 14 DA thủy lợi.

Về cơ giới hóa nông nghiệp: Những năm qua, mức độ cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp một số khâu tăng cao, nhất là đối với sản xuất lúa. Các chỉ tiêu về cơ giới hóa nông nghiệp một số khâu năm 2020 tăng từ 2-8% so với năm 2019. Theo kết quả theo số liệu tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến nay, doanh số cho vay từ khi triển khai chương trình hỗ trợ  theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đạt trên 11.000 tỷ đồng, cho khoảng 33.350 khách hàng được vay vốn.

Về nghề muối (diêm nghiệp): Từ năm 2017 đến nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu cho Chính phủ ban hành 02 văn bản quan trọng là Nghị định số 40/2017/NĐ-CP về quản lý sản xuất, chế biến, kinh doanh muối và Quyết định số 1325/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/08/2020 phê duyệt Đề án phát triển ngành muối giai đoạn 2021-2030; Tổng diện tích sản xuất muối cả nước đạt 11.916 ha. Lượng muối tồn trong diêm dân và một số doanh nghiệp sản xuất khoảng 562.946 tấn. Sản lượng muối đạt khoảng 1.350.000 tấn, cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng muối trong nước. Bước đầu hình thành vùng sản xuất muối công nghiệp tại 3 tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Hiện cả nước có 72 cơ sở chế biến muối.

2. Đánh giá chung

a) Mặt được

- Công tác tham mưu, chỉ đạo điều hành ngày càng sâu sát, quyết liệt hơn và chủ động hơn. Đến nay đã cơ bản xây dựng được hệ thống Văn bản QPPL của Ngành góp phần củng cố công tác chỉ đạo điều hành xuyên suốt từ cấp Trung ương đến địa phương.

- Kinh tế hợp tác, hợp tác xã tiếp tục có sự chuyển biến mạnh cả về số lượng và chất lượng hoat động của các HTX. Liên kết sản xuất theo chuỗi có sự phát triển mạnh. Các địa phương quan tâm hỗ trợ xây dựng các dự án liên kết theo đó đã công nhận gần 2.346 sản phẩm chủ lực; phê duyệt được 359 dự án liên kết, nâng số chuỗi liên kết cả nước lên 1.644 chuỗi.

- Phát triển ngành nghề nông thôn được quan tâm trở lại khi Chính phủ và Bộ Nông nghiêp và PTNT cùng các địa phương tổ chức sơ kết 02 năm thực hiện Nghị định 52/2018/NĐ-CP và lần đầu tiên tổ chức thành công cuộc thi thường niên hàng TCMN quốc gia.

- Lĩnh vực diêm nghiệp cũng tạo chuyển biến tích cực, bước đầu đã hình thành được vùng sản xuất muối công nghiệp tại 3 tỉnh: Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận; các sản phẩm muối của các doanh nghiệp chế biến đã từng bước đa dạng, phong phú. Một số đồng muối đã ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, nâng cao sản lượng, chất lượng muối.

b) Tồn tại, hạn chế.

- Về tổ chức Ngành: Sự phối hợp theo hệ thống ngành dọc, tổ chức triển khai các nhiệm vụ còn chậm. Một số Chi cục Phát triển nông thôn chưa thể hiện được vai trò tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ ngành ở địa phương nên đã bị dồn ghép với các Chi cục khác, thậm chí xóa tên.

- Công tác truyền thông về sự phát triển của các lĩnh vực do Ngành KTHT quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu; nội dung và hình thức tuyên truyền còn đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, chưa có tính thời sự.

- Là Ngành quản lý nhiều lĩnh vực nhưng kết quả đạt được chưa đồng đều, có những lĩnh vực quan trọng như Bảo hiểm nông nghiệp; phát triển trang trại nông nghiệp, gắn với du lịch nông nghiệp nông thôn chưa được đẩy mạnh.

- Kinh tế hợp tác, hợp tác xã tuy có chuyển biến mạnh cả về số lượng và chất lượng hoạt động nhưng số lượng thành viên, quy mô doanh thu của các HTX nông nghiệp còn nhỏ; chất lượng cán bộ, còn yếu. Các chính sách quan trọng như đầu tư hỗ trợ hạ tầng, nhất là hạ tầng phục vụ sản xuất kinh doanh; chính sách đất đai và đặc biệt là tín dụng vẫn là nút thắt.

- Công tác đào tạo nghề nông nghiệp chưa thực sự bám sát theo Tái cơ cấu ngành nông nghiệp; các nghề đào tạo chưa hướng đến những nghề liên quan đến công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, sản xuất tập trung theo chuỗi; đào tạo cho một số nghề mới chưa được quan tâm. Hệ thống các cơ sở, trường nghề còn khá thụ động trong việc xác định nhu cầu và triển khai đào tạo. Mục tiêu xã hội hóa trong đào tạo nghề làm chưa tốt, chưa tạo ra được cơ chế gắn kết Doanh nghiệp tham gia nên tỷ lệ 50-30-20 chưa thực hiện được.

- Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2018/NĐ-CP, nhiệm vụ phát triển NNNT đã được chuyển sang Sở Nông nghiệp và PTNT quản lý, tuy nhiên nhiều đại phương còn lúng túng, chưa xây dựng được kế hoạch hoạt động; ngành nghề nông thôn gặp rất nhiều khó khăn liên quan đến vùng nguyên liệu, quy hoạch vùng nguyên liệu; liên quan đến rà soát sau nghệ nhân, làng nghề, hỗ trợ đào tạo để truyền nghề, sáng tác mẫu mã...

- Việc triển khai cơ giới hóa nông nghiệp hiện còn thiếu Chiến lược và các chính sách cụ thể, mang tính đồng bộ. Trong khi Quyết định số 68/2013/QĐ-CP mới chỉ hỗ trợ mua máy đơn thuần, chưa thực sự tổ chức bao trùm cho lĩnh vực cơ giới hóa. Hiện trạng hạ tầng cơ giới hóa còn kém, nhân lực đào tạo còn yếu, việc cơ giới hóa mới chỉ tập trung ở một vài khâu trong sản xuất, trong đó rất nhiều khâu như sơ chế, chế biến, ứng dụng công nghệ tiên tiến còn hạn chế.

NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2021 NGÀNH KINH TẾ HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Ngành.

- Năm 2021 là năm đầu tiên của kỳ trung hạn 2021-2025 vì thế tất cả các lãnh vực quản lý nhà nước của ngành đều phải bắt tay xây dựng chiến lược, kế hoạch trung hạn, các chương trình, dự án cho toàn nhiệm kỳ.

- Theo kế hoạch năm 2021, Ngành sẽ tham mưu trình Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành 01 Nghị định; 01 Chiến lược ngành; 01 Thông tư; 01 Chương trình và 04 Đề án  phát triển là: Nghị định đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất nông nghiệp; Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030; Sửa đổi Thông tư số 09/2017/TT-BNNPTNT hướng dẫn phân loại và đánh giá hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; Đề án phát triển HTX Nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL; Đề án bảo tồn và phát triển làng nghề giai đoạn 2021-2025; Đề án đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn giai đoạn 2021-2025. Đề án Cơ giới hóa đồng bộ trong nông nghiệp và Chương trình bố trí dân cư giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

2. Về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã:

- Thứ nhất là tiếp tục thực hiện Kết luận số 70-KL/TW ngày 09/3/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Quyết định số 1804/QĐ-TTg ngày 13/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hỗ trợ, phát triển kinh tế tập thể, HTX giai đoạn 2021-2025.

- Thứ hai là đẩy mạnh việc thu hút nguồn nhân lực qua đào tạo về làm việc tại hợp tác xã, mục tiêu là tăng gấp đôi số cán bộ qua đào tạo về làm việc cho HTXNN từ trên 700 người hiện nay lên 1.500 người vào cuối năm 2021. Triển khai Chương trình đào tạo giám đốc hợp tác xã để cấp chứng chỉ sơ cấp nghề quốc gia theo chương trình của Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành.

- Thứ ba là xây dựng mô hình theo Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 03/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ  phê duyệt đề án lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới hiệu quả tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021 – 2025. Khuyến cáo các địa phương nhân rộng mô hình có hiệu quả.

- Thứ tư là tổ chức sơ kết 03 năm thực hiện Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ và tham gia vào tổng kết 20 thực hiện Nghị quyết số 13, Trung ương 5 Khóa 9 năm 2002 về về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, HTX và 10 năm thực hiện Luật Hợp tác xã năm 2012 với mục tiêu phát hiện, khắc phục những hạn chế để có những giải pháp và đề xuất Chính phủ xây dựng Nghị định về phát triển hợp tác xã nông nghiệp.

- Đề xuất tiêu chí xác định trang trại nông nghiệp hoạt động có hiệu quả gắn với phát triển du lịch nông nghiệp nông thôn; kiến nghị Chính phủ xây dựng Nghị định về phát triển kinh tế trang trại nông nghiệp.

2. Về đào tạo nghề nông nghiệp.

- Bên cạnh xây dựng kế hoạch đào tạo nghề, trước hết xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả và sổ tay hướng dẫn đào tạo nghề nông nghiệp cho lao đông nông thôn 05 năm tới.

- Xây dựng chuẩn đầu ra cho 5 nhóm nghề nông nghiệp: Trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, chế biến và nghề dịch vụ khác; xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 28/5/2020.

- Tổ chức đào tạo cho trên 300.000 lao động học nghề nông nghiệp  đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, quy mô lớn, tập trung; Đào tạo cho lao động tham gia Chương trình Mỗi xã một sản phẩm OCOP; Đào tạo cho lao động trong các vùng sản xuất hàng hóa.

- Thí điểm hỗ trợ đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn và đánh giá kỹ năng nghề quốc gia cho ngành nông nghiệp.

- Bộ cùng các địa phương xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật các nghề nông nghiệp trình HĐND tỉnh thông qua làm căn cứ thực hiện.

3. Phát triển ngành nghề nông thôn.

- Xây dựng chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn giai đoạn 2021-2030 trình Chính phủ phê duyệt.

- Hỗ trợ các doanh nghiệp, HTX, làng nghề thành lập hiệp hội quốc gia nghề gốm sứ, mây tre lá, thêu dệt và xây dựng các Trung tâm bảo tồn và phát triển làng nghề.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ số về phát triển làng nghề Việt Nam và tiêu chí đánh giá hoạt động của các làng nghề.

- Tổ chức Hội thi sản phẩm TCMN Việt Nam lần thứ 2 năm 2021.

4. Công tác bố trí ổn định dân cư và di dân, tái định cư.

- Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030 làm cơ sở để các Bộ, ngành Trung ương và địa phương triển khai tổ chức thực hiện giai đoạn tới.

- Tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ Chính phủ giao tại Nghị Quyết số 22/NQ-CP. Chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư; đặc biệt là hoàn thành việc di chuyển dân đến các khu, điểm tái định cư theo quy hoạch để người dân sớm ổn định đời sống và phát triển sản xuất tại nơi ở mới.

5. Lĩnh vực Nghề muối (diêm nghiệp).

- Rà soát quy hoạch về đất đai để thống nhất các địa phương theo yêu cầu về quản lý đất muối.

- Tổ chức sơ kết thực hiện Nghị định số 40/2017/NĐ-CP về quản lý sản xuất, chế biến, kinh doanh muối.

- Xây dựng mô hình điểm, bao gồm cả đầu tư phát triển hạ tầng sản xuất muối theo Quyết định số 1325/QĐ-TTg ngày 31/8/2020 của Thủ tướng phê duyệt Đề án phát triển ngành muối, bảo đảm các tiêu chí về: Tính liên kết giữa sản xuất với tiêu thụ, chú trọng phát triển chế biến, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao giá trị gia tăng cho SP muối; bảo đảm cân đối cung, cầu từng vùng; bảo tồn phát triển nghề muối gắn với du lịch nông nghiệp nông thôn.

6. Các lĩnh vực khác:

- Phát triển cơ giới hóa đồng bộ trong nông nghiệp: Tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định và đề án đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ trong nông nghiệp. Xây dựng và nhân rộng một số mô hình cơ giới hóa đồng bộ trong nông nghiệp, nhất là 06 mô hình cơ giới hóa đồng bộ ở ngành lúa gạo và cà phê triển khai tại các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đồng Tháp, Kiên Giang, Long An và Sóc Trăng.

- Công tác giảm nghèo và ASXHNT: Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp cho người nghèo theo hướng sản xuất hàng hóa thích ứng với biến đổi khí hậu; đa dạng sinh kế phi nông nghiệp, ngành nghề dịch vụ, phù hợp với điều kiện thực tiễn.

ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Với các Bộ, ngành Trung ương

- Kiến nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT: Thống nhất chỉ đạo cơ cấu tổ chức giai đoạn tới nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả hệ thống của Cục và Chi cục PTNT các tỉnh, trong đó hướng dẫn về số lượng biên chế của các Chi cục; thống nhất quản lý ở một số nhiệm vụ, cụ thể như lĩnh vực diêm nghiệp.

- Kiến nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính: Hướng dẫn việc triển khai thực hiện Quyết định số 1804/QĐ-TTg và Quyết định số 167/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt quan tâm đến xác định định mức hỗ trợ về hạ tầng cho HTX.

- Kiến nghị Bộ Tài chính: Bố trí ngân sách sự nghiệp để hỗ trợ triển khai thực hiện các Đề án, Chương trình. Ban hành chính sách về nâng cao năng lực để thay thế Thông tư số 340/2016/TT-BTC ngày 29/12/2016 hết hiệu lực.

- Kiến nghị với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội: Tổng hợp, ban hành kế hoạch trung hạn về đào tạo nghề giai đoạn 2021-2025. Ủy quyền để Bộ Nông nghiệp và PTNT cấp chứng chỉ đào tạo nghề Giám đốc hợp tác xã nông nghiệp.

2. Với các địa phương

- Căn cứ vào các nhiệm vụ trọng tâm trên đây của Ngành kinh tế hợp tác đề nghị UBND các tỉnh chỉ đạo các Sở, Ban, ngành xây dựng kế hoạch trung hạn, các chương trình, đề án, dự án của địa phương để thực hiện các nhiệm vụ.

- Đề nghị UBND các tỉnh giao Sở Nông nghiệp và PTNT rà soát chức năng, nhiệm vụ và giao biên chế phù hợp cho Chi cục PTNT, thống nhất các nhiệm vụ về phát triển nông thôn.

- Đề nghị Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu cho UBND tỉnh triển khai các Nghị định số 40/2017/NĐ-CP; Nghị định số 52/2018/NĐ-CP và kết luận sơ kết 02 năm thực hiện Nghị định số 52/2018/NĐ-CP; Sơ kết 03 năm thực hiện Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về liên kết; Quyết định số 1804/QĐ-CP; Nghị quyết số 134/NQ-CP; Rà soát quy hoạch đất muối; công nhận nghề, làng nghề, tổ chức các hội thi nghề và thực hiện việc xây dựng các mô hình thí điểm phát triển HTX; ngành nghề nông thôn; nghề muối hiệu quả.

- Đề nghị Sở Nông nghiệp và PTNT và Chi cục Phát triển nông thôn các tỉnh phối hợp với Cục Kinh tế hợp tác và PTNT trong việc số hóa cơ sở dữ liệu quản lý ứng dụng công nghệ tin học; đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các lĩnh vực quản lý nhà nước ngành Kinh tế hợp tác và PTNNNT./.

                                                                              Võ Văn Lập

                                               Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)
DỰ BÁO THỜI TIẾT

Hà Nội

 Thời tiết một số vùng ở nước ta

Tp Hồ Chí Minh

Thời tiết Tp Hồ Chí Minh

Huế

Thời tiết Huế

Tiền Giang

Thời tiết Tp Hồ Chí Minh

Nha Trang

Thời tiết Nha Trang

Cà Mau

Thời tiết Cà Mau

 
THÔNG TIN MỰC NƯỚC
Tình hình mực nước khu vực tỉnh Tiền Giang 
 
 
Điểm đo Mực nước cao nhất So với ngày trước
 
THÔNG TIN ĐỘ MẶN
Tình hình hạn mặn khu vực tỉnh Tiền Giang 
(Đến 7 giờ ngày 30/11/2021 )
 
Trạm đo Độ mặn cao nhất So với ngày trước
Cống Long Hải 2 g/l Tăng 0,5 g/l
Rạch Băng 0 g/l Tương đương
Gia Thuận 1,1 g/l Tăng 0,6 g/l
Bà Tài 1,4 g/l Tăng 2,1 g/l
Vàm Kênh 5 g/l Tăng 1,6 g/l