Truy cập nội dung luôn

Videos trang chủ Videos trang chủ

Tất cả videos

Hình hoạt động Hình hoạt động

  Hình Ảnh
Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1

Liên kết Liên kết

THỐNG KÊ THỐNG KÊ

  Đang truy cập : 2
  Hôm nay: 360
  Tổng lượt truy cập: 421790

Cải cách hành chính

Cách phòng trị các bệnh thường gặp trên tôm nuôi nước lợ
18/09/2016

Hiện nay, các vùng nuôi tômsú, tôm thẻ chân trắng thâm canh và bán thâm canh tại các tỉnh ĐBSCL đang bướcvào thời điểm thả giống vụ tôm chính vụ. Để có một vụ tôm thắng lợi thì ngoàiyếu tố con giống, thời vụ... thì các biện pháp kỹ thuật để phòng trị bệnh chotôm là vô cùng quan trọng. Do đó, để vụ tôm chính vụ năm 2015 thắng lợi, bà connuôi tôm cần tham khảo các biện pháp kỹ thuật để phòng trị các bệnh thường gặptrên tôm nuôi.

1. Bnh virus đốm trng (White spotBaculovirus- WSBV)

Tôm có thể bị chuyển sang màu hồng đỏ, khả năng tiêu thụ thức ăn giảm rõràng. Cơ thể tôm xuất hiện các đốm trắng tròn dưới vỏ, tập trung chủ yếu ở giápđầu ngực và đốt bụng cuối cùng, tôm bơi lờ đờ trên mặt nước và tấp vào bờ. Hiệntượng tôm chết xảy ra ngay sau các biểu hiện đó, tỷ lệ chết cao, có thể từ90-100% trong vòng 3-7 ngày.

2. Bệnh Hội chứng hoại tử gantụy cấp tính (Acute HepatopancreaticNecrosis Syndrome - AHPNS) hay còn gọi là Hội chứng chết sớm (Early MortalitySyndrome - EMS)

Bệnh xảy ra trong suốt quá trình nuôi, tậptrung nhiều ở giai đoạn 10-45 ngày sau khi thả nuôi. Giai đoạn đầu, triệu chứngcủa bệnh chưa rõ ràng, tôm chậm lớn, lờ đờ, bỏ ăn, tấp mé và chết ở đáy aonuôi. Giai đoạn tiếp theo, tôm bệnh có hiện tượng vỏ mềm, màu sắc cơ thểbiến đổi, gan tụy mềm nhũn, sưng to hoặc bị teo lại, tổ chức gan tụy thoái hóatiến triển cấp tính. Thiếu hoạt động phân bào đẳng nhiễm trong tế bào có nguồngốc từ mô phôi (tế bào E: Embyonalzellen). Các tế bào trung tâm của tổ chức gantụy (tế bào tiết B: Basenzellen, tế bào xơ F: Fibrillenzellen, tế bào dự trữ R:Restzellen) có sự biến đổi cấu trúc và rối loạn chức năng. Các tế bào của tổ chứcgan tụy có nhân lớn bất thường và có hiện tượng bong tróc tế bào biểu mô ống lượnvà bị viêm nhẹ. Giai đoạn cuối của hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính có sự tậphợp của tế bào máu ở giữa ống gan tụy và nhiễm khuẩn thứ cấp.

 Do đó để phòng ngừa bệnh này cầntuân thủ lịch mùa vụ thảnuôi và chọn con giống thả nuôi đảm bảo chất lượng. Thực hiện quy trình cảitạo ao (bón vôi, bừa kỹ, ngâm để phân hủy Cypermrthrin, Deltamethrin trong bùnđáy); qui trình nuôi (chỉ sử dụng chế phẩm sinh học và thức ăn thích hợp, đảm bảochất lượng, không để dư thừa thức ăn) theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thủy sản.Không sử dụng các chất diệt tạp, hóa chất cấm hoặc có nguồn gốc thuốc bảo vệ thựcvật để xử lý môi trường ao nuôi.

3. Bệnh phân trắng

Bệnhnày do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu do vi khuẩn, ký sinh trùng, yếu tố môitrường, trong đó tác nhân chủ yếu là vi bào tử thuộc giống Plexstophora và vi khuẩn thuộc giống Vibrio. Ở miền Bắc, bệnhthường xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 7; trong đó nhiều nhất vào tháng 5, tháng7. Ở miền Trung, bệnh xuất hiện rải rác. Ở miền Nam, bệnh tập trung từ tháng 8đến tháng 10. Bệnh thường xuất hiện trong mùa nắng nóng, nhiệt độ nước cao, mậtđộ nuôi cao; tôm dễ bị bệnh khi nuôi được từ 40 đến 90 ngày. Đặc biệt, bệnhthường xuất hiện khi thời tiết bất thường (nắng nóng, mưa kéo dài hoặc khi thờitiết thay đổi). Bệnh xuất hiện cả trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Khi tôm bị bệnh, kiểm tra sàn/nhá/vó sẽthấy phân tôm màu trắng trên sàn ăn hoặc nổi trên mặt nước dọc bờ ao, góc ao(cuối hướng quạt nước, cuối hướng gió). Tôm bị phân trắng sẽ giảm ăn hoặc ănkhông tăng theo tuổi. Kiểm tra tôm sẽ thấy ruột tôm không đầy thức ăn, có nhữngđốm màu vàng cát ở phần cuối ruột. Tôm bị óp, vỏ mỏng, teo nhỏ dần và chậm lớn.

Đểphòng ngừa bệnh này, cần phải chuẩn bị ao nuôi sạch sẽ ngay từ đầu, không sửdụng thức ăn bị mốc, hạn chế sử dụng thức ăn tươi. Trong quá trình nuôi quản lýchặt chẽ các yếu tố môi trường, định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học làm sạch môitrường. Thay nước định kỳ và sử dụng hóa chất diệt khuẩn sẽ giúp hạn chế bệnhphân trắng, đặc biệt trong những thời điểm nắng nóng, mưa kéo dài.

Tăngcường men vi sinh tiêu hóa, giúp tôm hấp thụ thức ăn tốt hơn, bổ sung vitaminvà khoáng chất giúp tôm tăng cường sức khỏe và giảm căng thẳng (stress). Đốivới những con tôm bị chết phải vớt ra khỏi ao để tránh tình trạng bệnh lây lando tôm khỏe ăn tôm bệnh. Trên thị trường hiện nay có sẵn những loại thuốc đểphòng ngừa và trị bệnh phân trắng cho tôm. Những loại thuốc này là kháng sinhnên khi sử dụng cần theo đúng liều lượng đã quy định. Tránh dùng vội, tăng liềuhoặc sử dụng không đủ, gây hiện tượng nhờn thuốc, dẫn đến thời gian điều trịkéo dài, vừa tốn kém vừa không hiệu quả.

4. Bnh do vi khun vibrio

Bệnh có biểu hiện đứt râu, thối mang, đen mang, thối đuôi, đốm đen. Tôm bẩn mình, bẩn mang, cơ thểchuyển màu hồng đỏ, tôm yếu, bỏ ăn rồi chết. Hiện tượng chết có thể xảy ra khi bệnh ở mức độ cấp tính, nếumãn tính có thể gây chậm lớn, phân đàn, mềm vỏ... Tác nhân chính gây racác bệnh trên là vi khuẩn thuộc giống Vibrio. Vi khuẩn Vibrio xâm nhậpvào ao nuôi theo nguồn nước, tôm giống, thức ăn, từ đáy ao nếu công tác tẩy dọnchưa tốt.

Để phòng trị cần áp dụng tổng hợp các biện pháp để kìm hãm sự phát triểncủa vi khuẩn như giữ chất lượng nước ao nuôi tốt, không nuôi mật độ quá cao,tránh làm tôm bị tổn thương, định kỳ dùng chế phẩm vi sinh để giảm hàm lượngchất hữu cơ trong ao nuôi. Giảm độ mặn nước xuống 15-20‰ có thể hạn chế vikhuẩn Vibrio phát triển, tăng sức đề kháng bằng quản lý môi trường tốt và bổsung vitamin C, A, E. Bệnh vi khuẩn thường xảy ra khi nước ao bẩn, tômyếu, vì vậy nên áp dụng đồng thời các biện pháp siphon đáy, thay nước mới đểlàm giảm mật độ vi khuẩn trong nước. Sử dụng các sản phẩm trong danh mục cho sửdụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, bổ sung vitamin C vào thức ăn. Sử dụngdầu mực bao gói thức ăn với liều lượng 5-10ml/kg thức ăn, kích thích lột xácbằng Saponine 10-15g/m3.

5. Bnh do vi khun dng si

Bệnh thường gặp ở ao nuôi có hàm lượng chất hữu cơ cao, mật độ nuôi dày. Bệnh có biểu hiện mang tôm biến đenhoặc biến màu nâu, các chân ngực và chân bơi có màu xám bám đầy lông tơ. Bệnhnặng thì mang chuyển sang màu vàng, màu xám hoặc màu xanh bám nhiều lông tơ làmảnh hưởng đến hô hấp. Tôm thường nổi đầu, dạt vào bờ và chết rải rác, nghiêmtrọng hơn làm tôm không lột xác được. Tác nhân gây bnh chủ yếu là vikhuẩn dạng sợi Leucothrix mucor,ngoài ra có thể do một số vi khuẩn dạng sợi khác như Cytophagr sp, Flexibacter sp, Thiothrix sp… Chúng có thể độc lậphay phối hợp với nhau gây bệnh ở mang, thân và các phụ bộ của tôm. Các vi khuẩn dạng sợi này sống hoạisinh trong nước biển, cửa sông và có thể bám lên bề mặt ngoài của tôm gây bệnh,có khả năng phân giải kitin, xenlulose và nhiều hợp chất hữu cơ khác.

Để phòng trị bệnh này cần cải thiện điều kiệnmôi trường và diệt vi khuẩn trên tôm bằng cách xi-phông đáy, thay nước mới để làm giảm mật độ vi khuẩn trong nước,tăng sức để kháng cho tôm bằng cách bổ sung vitamin C. Không nuôi mật độ quácao, tránh làm tôm bị tổn thương, định kỳ dùng chế phẩm vi sinh để giảm hàmlượng chất hữu cơ. Tăng cường sức đề kháng cho tôm bằng quản lý môi trường tốt vàbổ sung vitamin C, A, E và Beta-Glucan. Aođã bị bệnh thì dùng 1-2mg/m3 Saponine hoặc bột hạt chè phun đều khắpao kích thích tôm lột xác, sau khi tôm lột xác xong bơm thêm nước để giảm nồngđộ Saponine; hoặc dùng 2-5mg/m3 KMnO4 (thuốc tím) phunkhắp ao sau 4 giờ thì thay nuớc.

6. Bnh đóng rong hay mng bám

Bệnh có dấu hiệu các sinh vật (các động vật nguyên sinh và tảo lam) bám vào chân, mắt, vỏ giáp thànhmột lớp lông tơ có màu đen (thấy rõ dưới kính hiển vi). Tôm bị bệnh thường tách đàn nổi lên mặt nước bơi lờ đờ hay bámthành bờ, phản ứng chậm chạp, kém ăn, không lột xác được. Bệnh nặng, các sinh vật bám pháttriển bám vào mang làm tôm không hô hấp được, tôm bị thiếu ôxy làm tôm chết.

Bệnh đóng rong ở tôm xảy ra khi nước ao bẩn, có nhiều tảo bám, nhiềunguyên sinh động vật (trùng loa kèn) nên phải áp dụng các biện pháp như duy trìđộ trong thích hợp, ổn định tảo trong ao, tăng cường thay nước sạch (10-20%nước/lần) để làm giảm sinh vật bám trong ao, cải thiện môi trường. Tăngcường quạt nước để tăng hàm lượng ôxy hòa tan trong ao nuôi, cho ăn đúng mức đểtránh ô nhiễm đáy ao. Vớt tảo nổi trên bề mặt, xử lý nướcao bằng chế phẩm vi sinh để hấp thu khí độc NH3 và phân hủy chất hữucơ, hạn chế sự phát triển của tảo. Bổ sung Vitamin C vào thức ăn đểgiúp tôm giảm stress, tăng sức khỏe cho tôm. Thay nước hoặc dùngSaponin 10-15g/m3 tạt khắp ao giúp tôm lột xác đồng đều, nếu tỷ lệtôm nhiễm bệnh cao có thể sử dụng hóa chất diệt bớt sinh vật bám như formol(25ml/m3) hoặc CuSO4.

7. Bnh mm vỏ ở tôm thchân trng

Bệnh thường xảy ra trong các ao nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh. Tôm bệnh mềm vỏ thường có màu xỉn,vỏ bị mềm có khi rất mềm, vỏ rời thịt, thường yếu, kém hoạt động, dễ bị conkhác ăn thịt hoặc dễ bị các sinh vật gây bệnh tấn công, dễ bị mắc các bệnh bẩnmình bẩn mang, chết rải rác. Ngoài ra, tôm bị mềm vỏ thường chậmlớn, giảm giá trị thương phẩm. Bệnh mềm vỏ ở tôm thẻ chân trắng có nguyên nhânlà do thiếu dinh dưỡng, thức ăn thiếu canxi và phốt pho, độ cứng thấp, nước aonuôi nhiễm thuốc trừ sâu, hàm lượng lân trong nước thấp.

Để phòng trị bệnh phải quản lý môi trường nước ao nuôi có độ kiềm từ80-160mg/l bằng cách bón vôi CaCO3 hay Dolomite (CaMg(CO3)2)định kỳ một tuần/lần cho ao nuôi. Quản lý môi trường ao nuôi thích hợp và ổnđịnh tránh gây sốc cho tôm, bổ sung thêm khoáng thích hợp vào khẩu phần thức ănnhư canxi/phos, premix…

8. Bnh thiếu vitamin C

Tôm bị bệnh thiếu vitamin C thường xuất hiện các vùng cơ màu đen dướilớp vỏ ở mặt lưng của phần bụng, ở các chân bơi, chân bò, trên mang tôm cũng cócác vệt đen. Tôm ăn ít hoặc bỏăn, sức đề kháng giảm, khả năng chịu sốc kém, dễ bị các tác nhân gây bệnh cơhội tấn công tôm sinh trưởng chậm, chết rải rác 1-5% hàng ngày (tỷ lệ hao hụttổng cộng rất cao 80-90%). Bệnhthường gặp trong ao nuôi thâm canh, đặc biệt trong những ao tảo kém phát triển.

Để phòng trị bệnh cần bổ sung bổ sung một lượng vitamin C thích hợp vàokhẩu phần thức ăn cho đến khi khỏi bệnh.Cho tôm ăn thường xuyên vitamin C với các ao nuôi bằng thức ăn côngnghiệp, môi trường ao nuôi thiếu tảo.

9. Bnh cong thân

Tôm bị bệnh có hiện tượng cơ co rút, đuôi cong về phía bụng, không duỗira được. Bệnh thường xảy rakhi ta kéo tôm lên khỏi mặt nước đột ngột vào hững ngày nắng nóng hay lạnh rét,nhiệt độ không khí quá chênh lệch với nhiệt độ nước. Ngoài ra còn có thể do yếutố dinh dưỡng như thiếu hụt các chất vi lượng trong khẩu phần ăn của tôm.

Phòng bệnh cong thân cần tránh hiện tượng gây sốc do nhiệt độ, đảm bảođộ sâu cho ao, tránh bắt tôm vào ngày có nhiệt độ cao hay nhiệt độ thấp. Đồngthời bổ sung khoáng chất trong khẩu phần ăn nếu do yếu tố dinh dưỡng (thiếu hụtcác chất vi lượng).

10. Bệnh đen mang

Bệnh đen mang thường gặp trong các ao tôm thẻ chân trắng từ tháng nuôithứ 2. Tôm bị bệnh thường cóhiện tượng mang chuyển từ màu trắng ngà sang màu nâu hoặc đen kèm theo nhữngthương tổn ở mang, hô hấp khó khăn, nổi đầu, dạt bờ, ăn kém hoặc bỏ ăn, gâychết rải rác hoặc gây chết hàng loạt khi hàm lượng ôxy giảm dưới ngưỡng thíchứng.

Tôm bị đen mang do sống trong môi trường có nền đáy ô nhiễm, nhiều chấthữu cơ hoặc tảo tàn, các chất này bám vào mang gây hiện tượng đen mang. Trong ao có hàm lượng NH3,NO2 cao cũng làm tôm đen mang.Ngoài ra, tôm bị đen mang còn donhững thương tổn trên mang làm xuất hiện sắc tố melanin màu đen, là sản phẩmcủa phản ứng miễn dịch tự nhiên của tôm, cua.

Do đó, trị bệnh đen mang cần dùng chế phẩm vi sinh để làm sạch đáy ao, hấp thụ khí độc, cho tôm ănvitamin C và thay nước ở tầng đáy nếu điều kiện cho phép.

 Thành Công   

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)
DỰ BÁO THỜI TIẾT

Hà Nội

 Thời tiết một số vùng ở nước ta

Tp Hồ Chí Minh

Thời tiết Tp Hồ Chí Minh

Huế

Thời tiết Huế

Tiền Giang

Thời tiết Tp Hồ Chí Minh

Nha Trang

Thời tiết Nha Trang

Cà Mau

Thời tiết Cà Mau

 
THÔNG TIN MỰC NƯỚC
Tình hình mực nước khu vực tỉnh Tiền Giang 
 
 
Điểm đo Mực nước cao nhất So với ngày trước
 
THÔNG TIN ĐỘ MẶN
Tình hình hạn mặn khu vực tỉnh Tiền Giang 
(Đến 7 giờ ngày 17/02/2020 )
 
Trạm đo Độ mặn cao nhất So với ngày trước
Vàm Kênh 18,9 g/l Tăng 0,1 g/l
Long Hải 12,7 g/l Giảm 0,6 g/l
Vàm Giồng 4,5 g/l Giảm 0,5 g/l
Hòa Định 4,6 g/l Giảm 0,4 g/l
Xuân Hòa 3,41 g/l Tăng 0,05 g/l
Vàm Tân Mỹ Chánh 3,73 g/l Giảm 0,31 g/l
Gia Thuận 18,6 g/l Giảm 0,2 g/l
Cống số 3 ST 14,7 g/l Giảm 0,3 g/l
Cống số 1 ST 16,3 g/l Giảm 0,3 g/l
Cầu Xoài Hột 3,54 g/l Tương đương
Đồng Tâm 1,63 g/l Giảm 0,01 g/l
Cầu Phú Phong 2,91 g/l Giảm 0,89 g/l
Cầu Kim Sơn 3,46 g/l Giảm 0,46 g/l
Vàm Ba Rài 0,27 g/l Giảm 0,27 g/l
Vàm Cái Bè 0 g/l Giảm 0,27 g/l
Vàm Trà Lọt 0 g/l Tương đương
Phà Ngũ Hiệp 0,26 g/l Giảm 1,04 g/l